Đại hội Đại biểu toàn quốc là đại hội then chốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ 5 năm 1 lần. Mỗi kỳ Đại hội là một dấu mốc lịch sử quan trọng, phản ánh sự vận động không ngừng của tư duy lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Bài viết gồm 2 phần giới thiệu về dấu ấn các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng.
Phần 1. Dấu ấn của các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng thời kỳ trước đổi mới
Đại hội lần thứ I (1935)
Đại hội diễn ra từ ngày 27 – 31/3/1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), với sự tham gia của 13 đại biểu, do đồng chí Hà Huy Tập chủ trì. Đại hội đánh giá việc khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào đấu tranh của quần chúng, đồng thời đề ra nhiệm vụ củng cố và phát triển Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động quần chúng và mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh. Đại hội bầu BCH Trung ương Đảng, gồm 13 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đại hội lần thứ II (1951)
Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) từ ngày 11 đến 19/2/1951, với sự tham gia của 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 760.000 đảng viên. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư. Đại hội xác lập đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, quyết định thành lập Đảng Lao động Việt Nam.
 |
| Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II diễn ra từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) |
Đại hội lần thứ III (1960)
Đại hội họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10/9/1960, bầu Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết; bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Ban Chấp hành Trung ương bầu lại làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội đã đề ra đường lối cách mạng của cả nước và nhiệm vụ riêng cho cách mạng 2 miền: Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc, tiến hành Cách mạng Dân tộc Dân chủ ở miền Nam.
Đại hội lần thứ IV (1976)
Từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976, Đại hội họp công khai tại Thủ đô Hà Nội với 1.008 đại biểu thay mặt hơn 1.550.000 đảng viên của 38 đảng bộ tỉnh, thành và cơ quan trực thuộc trung ương trong cả nước. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của Đảng gồm 11 chương và 59 điều; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết; Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm có 14 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết; đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư. Đại hội đã mở ra kỷ nguyên cả nước thống nhất, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, xác định công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm.
Đại hội lần thứ V (1982)
Đại hội họp từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1982 tại Thủ đô Hà Nội với sự có mặt của 1033 đại biểu. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết; Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”.
Các Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng thời kỳ trước đổi mới diễn ra trong hoàn cảnh chiến tranh và khắc phục hậu quả của chiến tranh, đã ghi những dấu ấn của thời kỳ gian khó mà oanh liệt của Đảng và nhân dân Việt Nam.
Ban CTCT&CTSV