Sán dây (Cestoda) là một trong những nhóm giun sán ký sinh phổ biến ở gia cầm, đặc biệt là gà. Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà khá đa dạng, bao gồm các giống Raillietina, Choanotaenia, Hymenolepis và Cotugnia (Butt & cs., 2014; Elmajdoub & cs., 2023; Siddiqui & cs., 2023). Trong đó, Raillietina spp. là nhóm sán dây có phạm vi phân bố rộng và gặp phổ biến nhất ở gia cầm, với ba loài thường được ghi nhận là R. tetragona, R. echinobothrida và R. cesticillus. Tỷ lệ nhiễm Raillietina spp. ở gà có thể lên tới 97,2% (Lebdah & cs., 2011). Ngoài ra, Cotugnia digonopora cũng được ghi nhận với tỷ lệ nhiễm cao ở gà, trong đó tỷ lệ cao nhất được báo cáo là 94,5% (Butt & cs., 2014).
Raillietina tetragona và Cotugnia digonopora là hai loài sán dây ký sinh phổ biến ở gà, tuy nhiên dữ liệu định danh phân tử tại Việt Nam còn hạn chế. Tác hại bệnh lý do sán dây gây ra ở gà phụ thuộc chủ yếu vào cường độ nhiễm. Gà nhiễm Raillietina spp. chủ yếu ở giai đoạn mạn tính và thường có biểu hiện chậm phát triển, gầy sút nghiêm trọng và bệnh có xu hướng trầm trọng hơn ở những cá thể suy dinh dưỡng hoặc suy giảm miễn dịch. Ngoài ra, tại vị trí bám của sán thường hình thành các nốt viêm, vì vậy bệnh còn được gọi là bệnh sán dây dạng nốt (nodular tapeworm disease) (Jacobs & cs., 2003). Đối với C. digonopora, ký sinh trùng gây tổn thương ở nhiều lớp của thành ruột, bao gồm lớp biểu mô, lớp đệm, lớp cơ và lớp thanh mạc. Các biến đổi mô bệnh học chủ yếu gồm sung huyết và giãn mạch máu, xơ hoá mô liên kết, phì đại tuyến ruột, chuyển sản biểu mô và hoại tử tại các nhung mao ruột (Mahdi & cs., 2018).
Nghiên cứu nhằm định danh hai loài này ở gà tại khu vực phía Bắc Việt Nam bằng các chỉ thị ITS2 và nad1. Tổng cộng 43 mẫu sán dây trưởng thành được thu thập, định danh dựa vào PCR, giải trình tự gen và phân tích phát sinh loài. Kết quả xác định 6 mẫu thuộc C. digonopora và 37 mẫu thuộc R. tetragona. Các trình tự ITS2 và nad1 có độ tương đồng nucleotide lần lượt đạt 96,96–97,89% với C. digonopora và 96,38–98,90% với R. tetragona so với các trình tự tham chiếu trên Ngân hàng gen; kết quả phân tích phát sinh loài cũng xác nhận định danh của hai loài. Đây là báo cáo đầu tiên xác nhận sự hiện diện của C. digonopora ở gà tại Việt Nam bằng chỉ thị phân tử, đồng thời bổ sung nguồn dữ liệu tham chiếu cho các nghiên cứu về định danh và phát sinh loài của sán dây ký sinh ở gia cầm.
Một số kết quả minh họa:
    |
 |
| Hình 3. Cây phát sinh loài của Cotugnia digonopora được xây dựng từ các trình tự của đoạn gen ITS2 |
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học nữ cán bộ viên chức năm 2026
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến, Khoa Thú y
Tin bài: Đồng Văn Hiếu và Mai Tuyền - Công đoàn Học viện