Vừa qua, tại Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc gia lần thứ 3 với chủ đề “Môi trường nông nghiệp, nông thôn và Phát triển bền vững”.

Đây là diễn đàn khoa học quy mô và ý nghĩa, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý hàng đầu. Sự kiện cũng là hoạt động thiết thực hướng tới chào mừng kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện Nông nghiệp Việt Nam (1956–2026) và 50 năm thành lập Khoa Tài nguyên và Môi trường (1976–2026). Hội thảo diễn ra trong bối cảnh nền nông nghiệp nước nhà đạt được nhiều kỳ tích lớn, vươn mình trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản toàn cầu nhưng cũng đang phải đối mặt với sức ép nặng nề về suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

Chuyển đổi xanh - Con đường tất yếu hướng tới phát triển bền vững

Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS, TS. Nguyễn Công Tiệp, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam khẳng định, phát triển nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường luôn là chủ trương lớn, là ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước, bám sát quan điểm chỉ đạo: “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”.

PGS,TS. Nguyễn Công Tiệp, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội thảo

Tuy nhiên, PGS, TS. Nguyễn Công Tiệp cũng thẳng thắn chỉ ra những thách thức mang tính sống còn mà khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang phải đối mặt. Do đặc thù vị trí địa lý, nước ta thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai và biến đổi khí hậu như thời tiết cực đoan, nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn và suy thoái tài nguyên. Đồng thời, áp lực từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng: gia tăng chất thải, ô nhiễm môi trường, thu hẹp diện tích đất canh tác, suy giảm đa dạng sinh học và làn sóng “ly nông, ly hương” ngày càng rõ nét.

Trước bối cảnh đó, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và phục hồi môi trường tự nhiên như một nền tảng cốt lõi. Để hiện thực hóa khát vọng vươn mình của đất nước, ngành nông nghiệp cần chú trọng: Tăng cường xử lý, tái sử dụng phụ phẩm và chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn. Thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh mạnh mẽ trong sản xuất. Phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật nông thôn gắn liền với phòng chống thiên tai. Nâng cao tri thức, kỹ năng và tư duy hiện đại cho người nông dân.

PGS, TS. Nguyễn Công Tiệp khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao chính là nhân tố then chốt để chuyển dịch từ nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô lớn, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển xanh, ít phát thải. Học viện Nông nghiệp Việt Nam luôn tiên phong đi đầu trong việc đầu tư, đào tạo bài bản nguồn nhân lực môi trường ở cả 3 cấp độ: đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Điểm nhấn từ các tham luận và thảo luận tại hội thảo

Tại hội thảo, chia sẻ tham luận về “Môi trường nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn chuyển đổi xanh: Thách thức, cơ hội và định hướng hành động”, PGS, TS. Cao Trường Sơn, Trưởng nhóm nghiên cứu tinh hoa Quản lý môi trường và Phát triển bền vững (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã khái quát bức tranh đa chiều về nông nghiệp Việt Nam. Trong giai đoạn 2015-2025, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản liên tục tăng trưởng bình quân 15%/năm, đạt mức trên 70 tỷ USD vào năm 2025, khẳng định vị thế chiến lược của ngành trên trường quốc tế. Đi cùng với đó, chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới đã thay đổi căn bản cơ sở hạ tầng (tỷ lệ có điện đạt gần 100%, hạ tầng giáo dục và bảo vệ môi trường đạt trên 80%). Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2024 đạt 4,5 triệu đồng/tháng (tăng gấp đôi so với năm 2014) và tỷ lệ nghèo giảm sâu từ 15,3% xuống còn hơn 4%.

PGS, TS. Cao Trường Sơn, Trưởng nhóm nghiên cứu tinh hoa Quản lý môi trường và Phát triển bền vững (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) chia sẻ tham luận

Bên cạnh những kết quả đạt được, PGS, TS. Cao Trường Sơn cũng chỉ ra thực trạng đáng lo ngại: Khối lượng đất tự nhiên bị suy thoái chiếm tới 40,64%, trong đó đất nông nghiệp bị thoái hóa lên tới 5,1 triệu hecta (chiếm 43% tổng diện tích đất bị thoái hóa). Tình trạng đốt rơm rạ gây ô nhiễm không khí; chất thải sinh hoạt, chăn nuôi và hóa chất bảo vệ thực vật ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước; ô nhiễm tại các làng nghề ngày càng gia tăng. Lĩnh vực nông nghiệp đóng góp đến 27,5% tổng lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam (số liệu năm 2018 là 166 triệu tấn CO2 trên tổng số 605 triệu tấn). Đây là rào cản lớn khi nông sản xuất khẩu bắt đầu phải gánh thuế carbon từ thị trường quốc tế.

Để vượt qua các điểm nghẽn chính sách và nguồn lực, PGS, TS. Cao Trường Sơn đã đề xuất “Bộ tứ chiến lược” dựa trên các Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 57 về KHCN và chuyển đổi số; Nghị quyết 59 về hội nhập; Nghị quyết 66 về xây dựng pháp luật; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân). Đồng thời, ông khuyến nghị ứng dụng mạnh mẽ mô hình Sân sau khoa học công nghệ (Science and Technology Backyard), thành lập các Không gian thử nghiệm (Sandbox) và Phòng thí nghiệm sống (Living Lab) để đưa tri thức và công nghệ tuần hoàn trực tiếp đến đồng ruộng.

Tiếp nối mạch giải pháp công nghệ, tham luận “Cơ hội và thách thức của nông nghiệp thông minh trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường bền vững” do Thạc sĩ Nguyễn Bách Tùng, Phó Giám đốc Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đại diện nhóm nghiên cứu trình bày đã làm rõ bản chất của nông nghiệp thông minh. Theo đó, nông nghiệp thông minh không đơn thuần là việc mua sắm thiết bị, mà là một vòng khép kín dữ liệu từ cảm biến (IoT) thu thập thông tin, truyền dẫn lên Server/Cloud, phân tích bằng trí tuệ nhân tạo (AI) để đưa ra khuyến cáo hành động thực tế.

Thạc sĩ Nguyễn Bách Tùng, Phó Giám đốc Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ tham luận

Nhóm nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả qua các mô hình triển khai thực tiễn tại Việt Nam: Tại Đồng bằng sông Cửu Long: Hệ thống quản lý nước thông minh bằng IoT và AI giúp tiết kiệm từ 13% đến 20% lượng nước tưới so với canh tác truyền thống. Tại Tây Nguyên (Cây cà phê): Quan trắc đất và khí hậu nhằm tối ưu hóa lượng phân bón và nhu cầu tưới nước. Tại Ninh Bình (Cây lúa): Ứng dụng hệ thống bẫy đèn thông minh thu hút sâu rầy và camera AI tự động chụp ảnh, giải đoán, đếm chính xác số lượng sâu rầy, bướm cuốn lá để đưa ra cảnh báo sớm. Tại Nghệ An (Cây chè): Áp dụng giải pháp tổng thể từ quan trắc đất, khí hậu, sâu rầy đến giám sát sinh trưởng của lá qua hệ thống camera.

Tuy nhiên, Thạc sĩ Nguyễn Bách Tùng cũng lưu ý về các thách thức lớn như chi phí lắp đặt và bảo trì hệ thống IoT cao; dữ liệu còn phân tán do quy mô sản xuất nhỏ lẻ; nhận thức của người dân vùng cao chưa đồng đều; và tính chất sai số của công nghệ AI trước sự cực đoan của thời tiết. Nhóm nghiên cứu đề xuất cần phải thông minh hóa cả chuỗi cung ứng (vận tải, bảo quản lạnh) để kết nối hiệu quả từ vùng sản xuất đến tay người tiêu dùng.

GS, TS. Đặng Kim Chi, Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam cùng các đại biểu tập trung thảo luận về thực trạng ô nhiễm làng nghề

Cũng tại hội thảo dưới sự điều phối của GS, TS. Đặng Kim Chi, Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam các đại biểu còn tập trung thảo luận về thực trạng ô nhiễm làng nghề (tái chế nhựa, giấy, kim loại, chất thải điện tử mới nổi); tác động từ việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật và hiện tượng đốt hở phụ phẩm. Đồng thời, đại diện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chia sẻ áp lực tối ưu hóa dòng chảy dinh dưỡng (lân, kali) trên diện tích đất canh tác hạn hẹp; đại diện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn cung cấp góc nhìn báo động về "tác động kép" giữa biến đổi khí hậu và tốc độ sụt lún nền đất từ 1 - 3 cm/năm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt thể chế, các chuyên gia cũng cập nhật các điểm mới trong dự thảo Luật sửa đổi một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường 2020, nổi bật là việc đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua quản lý chất thải trực tuyến và giao quyền tự chủ cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh linh hoạt quyết định lộ trình phân loại rác tại nguồn phù hợp với đặc thù địa phương.

Khẳng định vai trò chủ động của đơn vị nghiên cứu

Phát biểu kết luận hội thảo, PGS, TS. Trần Trọng Phương, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) bày tỏ niềm trân quý sâu sắc trước sự tâm huyết và đam mê khoa học của các chuyên gia đầu ngành, các nhà quản lý đã dành thời gian tham dự và đóng góp ý kiến.

PGS, TS. Trần Trọng Phương, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) bày tỏ niềm trân quý sâu sắc trước sự tâm huyết và đam mê khoa học của các chuyên gia đầu ngành, các nhà quản lý đã dành thời gian tham dự và đóng góp ý kiến

PGS, TS. Trần Trọng Phương nhấn mạnh rằng, thông qua các bài tham luận và các ý kiến thảo luận đa chiều, tầm quan trọng mang tính chiến lược của lĩnh vực môi trường nông nghiệp, nông thôn cũng như khoa học đất, sức khỏe đất một lần nữa được khẳng định một cách mạnh mẽ. Từ những nghiên cứu cụ thể này, các nhà khoa học sẽ có cơ sở vững chắc để đưa ra những kiến nghị, đề xuất sâu sắc hơn nữa gửi tới các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, nhằm thúc đẩy các hành động quyết liệt và đồng bộ trong thực tiễn.

Đồng thời, PGS, TS. Phương khẳng định xu thế tất yếu của việc liên kết, chia sẻ học thuật. Khoa Tài nguyên và Môi trường (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) tự hào là đơn vị sáng lập ra các chuỗi hội thảo chuyên ngành uy tín. Dự kiến vào tháng 7 tới, Khoa sẽ tiếp tục chủ trì tổ chức Hội thảo quốc gia Quản lý đất đai toàn quốc với sự đồng hành của trường Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Cần Thơ. PGS, TS. Trần Trọng Phương bày tỏ mong muốn các trường đại học, viện nghiên cứu cùng khối ngành, đặc biệt là các đơn vị như Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội sẽ cùng chủ động tham gia vào mạng lưới này để tạo nên một hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, đưa tiếng nói của giới khoa học đóng góp hiệu quả vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Văn Thanh

https://nnmt.net.vn/