Ngày 20/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1612/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô, trong đó phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á. Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng với 11 trường đại học khác thuộc danh sách dẫn dắt việc thực hiện đề án.

Theo đó, 12 cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt theo Đề án phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô, trong đó phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á, gồm: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Y Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, Trường Đại học Giao thông vận tải, Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Phenikaa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Vin Uni, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.

Mục tiêu chung của Đề án nhằm tạo bước đột phá về chất lượng, năng lực cạnh tranh và hiệu quả đóng góp của các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô; hình thành nhóm cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt về đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và hội nhập quốc tế; cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và cả nước.

Mục tiêu đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phát triển ít nhất 12 cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt với định hướng xếp hạng theo cơ sở, xếp hạng theo ngành, lĩnh vực hoặc giữ vai trò trung tâm trong đào tạo tài năng, tinh hoa, nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo, trong đó phấn đấu có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 6 cơ sở có 1 ngành, lĩnh vực trở lên thuộc nhóm 200 châu Á theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.

 

Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng với 11 trường đại học khác thuộc danh sách dẫn dắt việc thực hiện Đề án phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô.

 

Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 45%; thu hút lũy kế tối thiểu 600 lượt giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ trở lên đang làm việc ở nước ngoài, tham gia giảng dạy hoặc nghiên cứu ít nhất 01 học kỳ tại các cơ sở giáo dục đại học; tỉ lệ sinh viên quốc tế đạt ít nhất 2% trong tổng số sinh viên.

Tỉ lệ người học theo học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) đạt ít nhất 40%, trong đó hàng năm có ít nhất 2.500 người học theo các chương trình kỹ sư, thạc sĩ tài năng và 300 nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt công nghệ chiến lược, công nghệ cao và các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Số lượng công bố quốc tế có uy tín tăng bình quân ít nhất 15%/năm và nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tăng bình quân ít nhất 10%/năm; số lượng đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân ít nhất 16%/năm; hỗ trợ ươm tạo, hình thành và phát triển ít nhất 300 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nguồn từ các cơ sở giáo dục đại học; hình thành mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo tại các cơ sở giáo dục đại học liên kết với mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo của Thủ đô, các địa phương và toàn quốc.

Phấn đấu ít nhất 30% tổng số chương trình đào tạo thuộc các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đạt chuẩn kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.

100% cơ sở giáo dục đại học triển khai hệ thống quản trị đại học số có tích hợp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý tuyển sinh, đào tạo, tài chính, nhân sự, nghiên cứu khoa học và thư viện; 100% cơ sở kết nối, chia sẻ dữ liệu hoàn chỉnh với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục đại học theo quy định.

Đến năm 2035: Có ít nhất 04 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng trong nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á theo bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Rà soát, củng cố và có thể mở rộng nhóm các cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt theo định hướng xếp hạng cơ sở; xếp hạng theo ngành, lĩnh vực hoặc giữ vai trò trung tâm đào tạo tinh hoa, nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo; trong đó có ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học có 1 ngành, lĩnh vực trở lên thuộc nhóm 100 châu Á theo bảng xếp hạng quốc tế uy tín.

 

Học viện Nông nghiệp Việt Nam là đại học tự chủ, đa ngành.

 

Tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 60%; thu hút được lũy kế tối thiểu 1.000 lượt giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ trở lên, đang làm việc ở nước ngoài tham gia giảng dạy hoặc nghiên cứu ít nhất 1 học kỳ tại các cơ sở giáo dục đại học; tỉ lệ sinh viên quốc tế đạt ít nhất 3% tổng số sinh viên.

Củng cố và mở rộng các chương trình đào tạo tài năng; quy mô đào tạo đạt ít nhất 3.000 người học theo học các chương trình kỹ sư, thạc sĩ tài năng và 500 nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược, công nghệ ưu tiên và các ngành, lĩnh vực trọng điểm khác phục vụ phát triển Thủ đô và đất nước.

Số lượng công bố quốc tế tăng bình quân tối thiểu 18%/năm; số đăng ký sáng chế tăng bình quân tối thiểu 18%/năm, số văn bằng bảo hộ sáng chế tăng tối thiểu 18%/năm; nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chiếm ít nhất 15% tổng nguồn thu của các cơ sở giáo dục đại học.

Tầm nhìn đến năm 2045: Ít nhất 50% cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô trở thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển giao tri thức và công nghệ ngang tâm khu vực và thế giới. Nguồn nhân lực chất lượng cao, tài năng khoa học, công nghệ được đào tạo từ các cơ sở giáo dục đại học trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, góp phần đưa Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế tri thức, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có uy tín quốc tế.

Đề án cũng đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện đề án gồm:

Thứ nhất, khai thác cơ chế đặc thù của Thủ đô:

Rà soát, bố trí quỹ đất và thực hiện các chính sách về đất đai, thuế, đầu tư, hạ tầng đối với cơ sở giáo dục đại học theo quy hoạch, khả năng bố trí quỹ đất và khả năng cân đối ngân sách.

Khai thác và sử dụng hiệu quả Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thành phố, Quỹ Đầu tư mạo hiểm thành phố Hà Nội, quỹ của doanh nghiệp, nguồn xã hội hóa, vốn ODA, vốn vay ưu đãi, nguồn hợp tác công tư và các nguồn hợp pháp khác theo cơ chế được cấp có thẩm quyền quyết định để hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm, ươm tạo, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp khởi nguồn từ các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn.

Ưu tiên hỗ trợ phát triển không gian, hạ tầng nghiên cứu và năng lực đội ngũ; quốc tế hóa và áp dụng các cơ chế tài chính phù hợp để giải quyết các bài toán lớn trong phát triển của Thủ đô; phát triển doanh nghiệp khởi nguồn từ cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và trung tâm đổi mới sáng tạo tại các cơ sở giáo dục đại học.

Rà soát, tháo gỡ các khó khăn thực tế về thủ tục hành chính, giấy phép lao động, cư trú, bảo hiểm và điều kiện làm việc đối với giảng viên, sinh viên và chuyên gia quốc tế theo quy định pháp luật.

Thứ hai, phát triển các ngành, chương trình đào tạo trọng điểm, tài năng:

Ưu tiên đầu tư hỗ trợ phát triển các chương trình đào tạo thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt phục vụ phát triển công nghệ chiến lược và các lĩnh vực phục vụ trực tiếp cho chiến lược phát triển vùng Thủ đô, khu vực và cả nước.

Phát triển và mở rộng các chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài và tiến sĩ tài năng gắn với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và dự án đầu tư phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu xuất sắc theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ của Nhà nước, Thủ đô và doanh nghiệp.

Hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học mở rộng hợp tác quốc tế, liên kết đào tạo, đồng hướng dẫn sau đại học, trao đổi giảng viên, sinh viên, thu hút sinh viên quốc tế, phát triển chương trình giảng dạy bằng tiếng nước ngoài; tham gia các mạng lưới bảo đảm chất lượng và các bảng xếp hạng đại học quốc tế uy tín.

Thứ ba, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia trình độ cao:

Xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách đột phá thu hút, trọng dụng giảng viên giỏi, nhà khoa học xuất sắc, chuyên gia công nghệ, chuyên gia quản trị đại học và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô theo Luật Thủ đô.

Triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảng viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và đào tạo sau đại học để nâng cao trình độ thông qua các chương trình học bổng sử dụng ngân sách nhà nước và các chương trình học bổng song phương của Việt Nam với các nước trên thế giới; trong đó ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ tiến sĩ, nhà khoa học trẻ, nhóm nghiên cứu mạnh, các nhà khoa học đầu ngành, chủ nhiệm chương trình đào tạo tài năng và nhóm chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Gắn chính sách hỗ trợ đội ngũ với kết quả đào tạo, nghiên cứu, công bố khoa học, sáng chế, chuyển giao công nghệ, thu hút nguồn lực và đóng góp cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm của Thủ đô.

Thứ tư, hiện đại hóa hạ tầng, không gian phát triển, quản trị số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục đại học:

Rà soát nhu cầu và khả năng bố trí quỹ đất, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và kết nối giao thông cho các cơ sở giáo dục đại học; ưu tiên phát triển các cụm đại học và tổ hợp đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo gắn với các khu công nghệ, khu công nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo và các cực tăng trưởng mới của Thủ đô, bảo đảm phù hợp quy hoạch và thẩm quyền.

Phát triển các nền tảng dùng chung về học liệu, mô hình, công cụ và môi trường thực hành, ưu tiên các ngành, lĩnh vực công nghệ chiến lược; tích hợp với hạ tầng tính toán và kho dữ liệu dùng chung, hình thành hệ sinh thái thực hành trí tuệ nhân tạo trực tuyến.

Thiết lập cổng kết nối, chia sẻ dữ liệu và giao diện tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, cơ sở dữ liệu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan; khai thác dữ liệu để quản trị chất lượng, dự báo nhu cầu nhân lực và đánh giá hiệu quả chính sách.

Phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo được triển khai theo hai hướng song hành là ngành, lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu chiến lược; đồng thời là công cụ đổi mới quản trị đại học, dạy học, nghiên cứu, đánh giá, phát triển học liệu mở, hỗ trợ người học và cá thể hóa quá trình học tập. Việc phát triển, ứng dụng và quản trị trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm an toàn, tin cậy, minh bạch, có trách nhiệm và quản trị rủi ro, chủ quyền dữ liệu, an toàn hệ thống, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước; tuân thủ quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm xã hội.

Thứ năm, phát triển nhóm cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt:

Ưu tiên đầu tư phát triển 12 cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt có khả năng đạt thứ hạng cao trong khu vực châu Á theo xếp hạng toàn cơ sở hoặc ngành/lĩnh vực hoặc giữ vai trò trung tâm đào tạo tinh hoa, nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo, trong đó ưu tiên đầu tư hệ thống trang thiết bị, phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu xuất sắc và trung tâm trí tuệ nhân tạo cho các cơ sở giáo dục đại học công lập theo ngành, lĩnh vực đào tạo thế mạnh, mục tiêu xếp hạng quốc tế, mức độ tự chủ, thực hiện nhiệm vụ công, hiệu quả đầu ra, vốn đối ứng, khả năng vận hành và bảo trì; hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học tư thục thông qua cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo cơ chế cạnh tranh, học bổng, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, sử dụng hạ tầng dùng chung hoặc cơ chế đồng tài trợ có điều kiện theo quy định của pháp luật.

Thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ về đất đai, hạ tầng, thuế và không gian phát triển đối với 12 cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt theo quy định của Luật Thủ đô, quy hoạch, khả năng bố trí quỹ đất và khả năng cân đối ngân sách.

Khuyến khích các cơ sở huy động nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi, nguồn lực hợp tác công - tư, tài trợ, viện trợ và các nguồn hợp pháp khác để phát triển trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm mở, hạ tầng dữ liệu dùng chung và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật.

Nguồn kinh phí thực hiện Đề án gồm: ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán chi hằng năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn của các bộ, cơ quan trung ương và thành phố Hà Nội, bao gồm kinh phí từ các chương trình mục tiêu quốc gia theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, pháp luật về đầu tư công và quy định pháp luật liên quan; nguồn thu hợp pháp của các cơ sở giáo dục đại học; nguồn xã hội hóa, hợp tác công tư, vốn ODA, viện trợ, tài trợ của tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác theo quy định pháp luật.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam là đại học đa ngành, trọng điểm quốc gia. Đến nay, Học viện đã đào tạo cho đất nước trên 150.000 kỹ sư, cử nhân, hơn 15.000 thạc sỹ và gần 800 tiến sỹ. Với những thành tích trong đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như hợp tác quốc tế, Học viện đã đóng góp tích cực vào sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong những thập kỷ qua.

Học viện có hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, gồm: gần 170 phòng học thông minh, 52 phòng thí nghiệm (trong đó có 6 phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO), 82 mô hình khoa học công nghệ….. Đặc biệt, Học viện thành lập Trung tâm Nghiên cứu xuất sắc và Đổi mới sáng tạo với 20 phòng nghiên cứu hiện đại, chuyên sâu.

Học viện có đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, được đào tạo bài bản tại các nước có nền khoa học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Gần 100 giảng viên được phong hàm giáo sư, phó giáo sư; hơn 360 giảng viên có học vị tiến sĩ; nhiều giảng viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, giải thưởng Kovalevskaya,… Đặc biệt, trên 90% giảng viên của Học viện được đào tạo ở các nước có nền khoa học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như: Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hà Lan…

 

https://danviet.vn/