Viện Sinh học và Công nghệ nông nghiệp chủ trì thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình sản xuất thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, nay là Thành phố Hải Phòng. Vụ Xuân năm 2026, các mô hình sản xuất thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 tiếp tục được nhân rộng với tổng diện tích 25ha trên địa bàn 5 xã gồm Hải Hưng (5,35ha), Nguyên Giáp (6,5ha), Chí Minh (3,25ha), Gia Phúc (5,30ha) và Lai Khê (4,6ha), thành phố Hải Phòng. Viện Sinh học và Công nghệ Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tại 5 xã để tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch ngô nếp hiện đại cho người dân tham gia xây dựng mô hình. Các hộ dân tham gia tập huấn và xây mô hình sản xuất ngô nếp thương phẩm VNUA16 đã được nâng cao kỹ thuật trong canh tác và chăm sóc ngô thực phẩm; thực sự thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp thuần tuý sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá nhờ kết nối tiêu thụ sản phẩm ngay trên đồng ruộng của người nông dân. Với năng suất và chất lượng tốt, khả năng chống đổ tốt, dễ trồng và chăm sóc, giống ngô VNUA16 đã được nông dân tại Hải Phòng tiếp nhận và đưa vào sản xuất.
Năm 2026, Viện Sinh học và Công nghệ Nông nghiệp - Học viện Nông nghiệp Việt Nam tiếp tục thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình sản xuất thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 trên địa bàn tỉnh Hải Dương” giai đoạn 2024-2026 nhằm chuyển giao đồng bộ tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất ngô nếp thương phẩm VNUA16. Các mô hình được sản xuất ngô nếp đã được triển khai tại 5 xã mới gồm Hải Hưng (5,35ha), Nguyên Giáp (6,5ha), Chí Minh (3,25ha), Gia Phúc (5,30ha) và Lai Khê (4,6ha), thành phố Hải Phòng với tổng diện tích 25ha trong vụ Xuân trên các chân đất chuyên màu.
VNUA16 một giống ngô nếp mới của Viện được chọn tạo, công nhận lưu hành tại các vụ và vùng trồng ngô phía Bắc vào năm 2022. Giống đã được phát triển, mở rộng sản xuất ở nhiều tỉnh phía Bắc như Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn, Bắc Ninh… Cây ngô VNUA16 sinh trưởng phát triển khoẻ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, thích nghi cao với điều kiện khí hậu của miền Bắc Việt Nam. Mô hình sản xuất thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 được triển khai tại Hải Dương cũ (nay là Hải Phòng) từ năm 2024-2026, với tổng diện tích là 100 hecta
Các hộ dân tham gia xây dựng mô hình sản xuất nhận được hỗ trợ 50% tiền hạt giống và được tham gia lớp tập huấn kỹ thuật canh tác thương phẩm giống ngô nếp VNUA16. Trong quá trình sản xuất, nhóm cán bộ kỹ thuật phụ trách mô hình của đề tài thường xuyên đồng hành và hỗ trợ kỹ thuật kịp thời cho bà con nông dân; hướng dẫn cho người dân kỹ thuật ngâm ủ, gieo trồng và chăm sóc ngô VNUA16. Bên cạnh đó, hướng dẫn bà con quản lý đồng ruộng, theo dõi, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh hại trên cây ngô nếp an toàn hiệu quả. Điều đặc biệt là người nông dân không chỉ làm, mà còn hiểu những gì mình đang làm. Họ thực sự là người đồng hành cùng với các nhà khoa học trên cánh đồng mở.
Giống ngô nếp VNUA16 trồng tại các địa phương được chăm sóc phòng trừ sâu bệnh kịp thời, đúng thời điểm nên cây ngô rất khỏe, ruộng ngô sạch sâu bệnh, đặc biệt các loại sâu bệnh phổ biến gây hại cho ngô như sâu xám, sâu keo mùa thu, sâu đục thân, đục bắp, đục cờ, rệp thân mềm hại cờ, bệnh khô vằn, gỉ sắt…được kiểm soát tốt. Vụ Xuân 2026, thời tiết khô ráo nên thuận lợi cho các hoạt động vệ sinh đồng ruộng, làm đất lên luống và gieo hạt. Thời tiết vụ Xuân 2026 tuy có nền nhiệt độ cao hơn năm 2025 nhưng cường độ ánh sáng vẫn yếu do trời âm u, lượng mưa ít, độ ẩm đồng ruộng thấp nên khả năng tăng trưởng chiều cao cây ngô ở giai đoạn đầu bị hạn chế, cây lớn chậm. Vào gia đoạn trước trỗ, ánh mạnh, có mưa cây phát triển khỏe, chiều cao cây tăng, rễ chân kiềng hình thành nên khả năng chống đổ gẫy tốt. Điểm nổi bật của giống ngô nếp VNUA16 là cây to, chiều cao cây thấp, chống đổ tốt.
Chất lượng bắp VNUA16 khi luộc chín ăn rất dẻo, ngọt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Tổng kết hoạt động xây dựng mô hình sản xuất ngô nếp VNUA16 thương trong vụ Xuân 2026, đề tài đánh giá các mô hình có mức chi phí sản xuất từ 48,8 -53,7 triệu đồng/ha (chưa nhận hỗ trợ). Khi đề tài hỗ trợ 50% tiền hạt giống, tiền thuốc bảo vệ thực vật, chi phí sản xuất giảm xuống, dao động từ 44-49 triệu đồng/ha. Tổng thu đạt từ 99,6-123,4 triệu đồng/ha. Lãi thu được từ 48-55 triệu đồng/ha (khi không có hỗ trợ) và lãi từ 52-69 triệu đồng/ha (mô hình nhận hỗ trợ 50% giống, tiền thuốc bảo vệ thực vật). Hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất giống ngô nếp VNUA16 vượt trên 15% so với sản xuất đại trà tại địa phương. Toàn bộ sản phẩm bắp tươi của mô hình được tiêu thụ tại địa phương và các tỉnh lân cận.
Sau mỗi vụ sản xuất, các hội thảo được tổ chức để đánh giá kết quả thực hiện đồng thời mở ra những hướng đi tiếp theo cho sản xuất ngô thực phẩm tại địa phương. Đề tài đã giúp nâng cao năng suất ngô nếp từ 15-18%, giảm chi phí đầu vào, đặc biệt tạo ra sản phẩm có thể truy xuất nguồn gốc, kết nối với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm bắp ngô ăn tươi.
    |
 |
| Hình ảnh lưu niệm của ban tổ chức cùng các đại biểu và hộ nông dân tiêu biểu tham dự Hội thảo Khoa học năm 2026 |
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, đề tài từng bước nâng cao nhận thức của người dân về việc sản xuất ngô nếp thương phẩm liên kết với tiêu thụ sản phẩm, phòng trừ thuốc bảo vệ thực vật đúng cách để đảm bảo cho người sản xuất, chất lượng sản phẩm và môi trường sinh thái. Từ đó thực sự thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp thuần tuý sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá nhờ kết nối tiêu thụ sản phẩm ngay trên đồng ruộng của người nông dân.
Trần Thị Thanh Hà – Nhóm nghiên cứu mạnh Cây màu