VNUA16 là giống ngô nếp mới của Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam được chọn tạo và công nhận lưu hành tại các tỉnh phía Bắc vào năm 2022. Giống đã được phát triển, mở rộng sản xuất ở nhiều tỉnh phía Bắc cũ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Bình, Lạng Sơn, Bắc Giang… Cây ngô VNUA16 sinh trưởng phát triển khoẻ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, thích nghi với điều kiện khí hậu của miền Bắc Việt Nam. Năm 2024, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương giao cho chủ trì đề tài “Xây dựng mô hình sản xuất thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 trên địa bàn tỉnh Hải Dương” nhằm phát triển giống ngô nếp VNUA16 tại địa phương, giúp bà con nông dân nâng cao nhận thức trong việc áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật và tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất.

Kết quả xây dựng mô hình trong vụ Đông 2025

STT

Huyện

Địa điểm

Diện tích (ha)

Tập huấn (lượt người)

1

Tứ Kỳ

Nguyên Giáp

5,50

50

An Thanh

3,20

2

Thanh Miện

Tân Trào

5,00

50

Đoàn Kết

2,30

3

Gia Lộc

Phương Hưng

0,70

50

Phương Điếm

1,10

4

Kim Thành

Thượng Vũ

5,30

50

Tuấn Việt

1,90

 

Tổng cộng

 

25,00

200

Năm 2024, miền Bắc chịu ảnh hưởng lớn của cơn bão số 3 (bão Yagi) vào tháng 9, các vùng được lựa chọn để xây dựng mô hình bị ngập úng nặng nên đa số diện tích mô hình ngô Đông được gieo trồng vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 tại 8 điểm thuộc 4 huyện của tỉnh Hải Dương, các hộ dân tham gia xây dựng mô hình được hỗ trợ 50% tiền hạt giống, tiền thuốc bảo vệ thực vật (600.000 đồng/ha), được tham gia tập huấn kỹ thuật canh tác thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 và được hỗ trợ kỹ thuật kịp thời trong quá trình tham gia xây dựng mô hình sản xuất.

leftcenterrightdel

Hình nh cán b đề tài giao ging cho các h dân tham gia xây dng mô hình 

leftcenterrightdel

Hình ảnh tập huấn kỹ thuật cho các hộ dân 

Trong quá trình triển khai mô hình, bà con nông dân luôn nhận được sự đồng hành của cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo địa phương, kiểm tra và hỗ trợ kỹ thuật kịp thời.

leftcenterrightdel
 

Hình nh cán bộ kiểm tra mô hình

leftcenterrightdel

Hình ảnh giống ngô nếp VNUA16 thương phẩm trong vụ Đông 2024 tại Hải Dương

 

Qua kết quả đánh giá về năng suất bắp tươi, hiệu quả kinh tế của giống ngô nếp VNUA16 trong vụ Đông 2024. Năng suất bắp tươi VNUA16 tương đương đối chứng HN88 tại Thượng Vũ, và vượt đối chứng  tại các điểm còn lại từ 1,4-6,3%, hiệu quả kinh tế khi trồng VNUA16 có được nhận kinh phí hỗ trợ từ đề tài cao hơn đối chứng HN88 từ 13,13-19,73%, từ 8,64-15,06% khi không nhận hỗ trợ kinh phí từ đề tài.

Kết quả đánh giá về năng suất và hiệu quả kinh tế trong vụ Đông 2024

Điểm xây dựng mô hình

Tên giống

Năng suất bắp tươi (tấn/ha)

Năng suất vượt với đối chứng (%)

Hiệu quả kinh tế vượt HN88 (%)

Có hỗ trợ giống, tiền thuốc bảo vệ

Không hỗ trợ kinh phí

Huyện Gia Lộc

Phương Điếm

VNUA16

13,93

5,0

19,73

15,06

Phương Hưng

VNUA16

14,1

6,3

18,30

13,64

HN88

13,27

 

 

 

Huyện Thanh Miện

Tân Trào

VNUA16

14,55

4,6

17,57

13,14

Đoàn Kết

VNUA16

14,15

1,7

12,50

8,06

HN88

13,91

 

 

 

Huyện Tứ Kỳ

An Thanh

VNUA16

14,79

1,4

13,49

9,32

Nguyên Giáp

VNUA16

14,87

2,0

14,20

10,03

HN88

14,58

 

 

 

Huyện Kim Thành

Thượng Vũ

VNUA16

13,96

0

13,13

8,64

Tuấn Việt

VNUA16

14,27

2,2

15,69

11,21

HN88

13,96

 

 

 

Cuối vụ sản xuất, hội thảo khoa học đánh giá kết quả thực hiện mô hình sản xuất thương phẩm giống ngô nếp VNUA16 được tổ chức, đại biểu tham dự Hội thảo gồm lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể và bà con nông dân tại địa phương. Tại đây, đại biểu được tham quan đánh giá mô hình tại thực địa, được thử nếm đánh giá chất lượng của giống VNUA16, các đại biểu đánh giá rất cao chất lượng của giống, bắp luộc ăn rất dẻo, thơm và đậm vị. Hội thảo không chỉ để đánh giá kết quả mà còn để tuyên truyền, quảng bá và mở ra những hướng đi tiếp theo tại địa phương.

leftcenterrightdel
 
leftcenterrightdel

   Hình nh của Hội thảo đánh giá mô hình sn xut

Bên cạnh những kết quả đạt được, đề tài từng bước nâng cao nhận thức của người dân về việc sản xuất ngô nếp thương phẩm và liên kết với tiêu thụ sản phẩm, dùng thuốc bảo vệ thực vật đúng cách đảm bảo an toàn cho người sản xuất, chất lượng sản phẩm và môi trường sinh thái. Từ đó thay đổi tập quán canh tác của người dân từ chỗ chỉ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất ngô có kỹ thuật và thấy được sự cần thiết của việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất.

Trần Thị Thanh Hà – Nhóm nghiên cứu mạnh Cây màu